Bài toán này củng cố các tính chất cơ bản của tỉ lệ thức. Từ một tỉ lệ thức ban đầu $\frac{a}{b} = \frac{c}{d}$, ta có thể suy ra các tỉ lệ thức mới bằng cách cộng, trừ, hoặc nhân tỉ số với các giá trị thích hợp.
Chứng minh rằng từ tỉ lệ thức ta suy ra được các tỉ lệ thức sau:
a)
b)
c) (các mẫu số phải khác 0).
Ta bắt đầu chứng minh từ tỉ lệ thức đã cho $\frac{a}{b} = \frac{c}{d}$.
Mục tiêu là biến đổi hai vế của đẳng thức này bằng cách cộng, trừ hoặc nhân với cùng một giá trị để tạo ra tỉ lệ thức mới.
a) Để có $\frac{a+b}{b}$, ta cộng $1$ vào hai vế của tỉ lệ thức.
b) Để có $\frac{a-b}{b}$, ta trừ $1$ khỏi hai vế của tỉ lệ thức.
c) Đây là biến đổi tỉ lệ thức nâng cao hơn, yêu cầu áp dụng tính chất nghịch đảo hoặc tính chất dãy tỉ số bằng nhau.
a)
Theo giả thuyết có nên:
(Cộng hai vế với 1)
(đpcm)
b)
Theo giả thuyết có nên:
(Cộng hai vế với -1)
(đpcm)
c) (các mẫu số phải khác 0).
Ta có và
nên
(đpcm).
Các tính chất suy ra từ tỉ lệ thức $\frac{a}{b} = \frac{c}{d}$ là:
Tính chất cộng/trừ 1: $\frac{a \pm b}{b} = \frac{c \pm d}{d}$
Tính chất nghịch đảo của tổng: $\frac{a}{a+b} = \frac{c}{c+d}$
Kỹ năng chứng minh này giúp hiểu sâu sắc mối quan hệ giữa các thành phần trong tỉ lệ thức. Hãy thường xuyên ghé thăm hayhochoi.vn để cập nhật thêm nhiều bài giải và kiến thức toán học bổ ích khác nhé!
• Xem thêm: