Trong vật lí hạt nhân, việc xác định lượng chất phóng xạ còn lại hoặc đã bị biến đổi sau một khoảng thời gian là bài toán cơ bản nhưng cực kỳ quan trọng. Dựa vào hằng số phóng xạ đặc trưng của mỗi chất, chúng ta có thể dự đoán chính xác diễn biến của quá trình phân rã. Bài tập này sẽ củng cố kỹ năng vận dụng hàm mũ trong định luật phân rã phóng xạ.
Một mẫu chất phóng xạ có hằng số phóng xạ λ = 0,1 s-1, ban đầu chứa 5.1012 hạt nhân chưa phân rã. Hãy xác định số hạt nhân phóng xạ đã phân rã và độ phóng xạ sau 30 giây kể từ lúc ban đầu.
Để giải bài toán này, chúng ta cần phân biệt rõ hai đại lượng: số hạt nhân còn lại ($N_t$) và số hạt nhân đã phân rã ($\Delta N$).
Số hạt nhân còn lại ($N_t$): Được tính theo định luật phân rã phóng xạ:
Số hạt nhân đã phân rã ($\Delta N$): Là lượng hạt đã biến đổi thành chất khác.
Độ phóng xạ ($H_t$): Đặc trưng cho tốc độ phân rã tại thời điểm $t$.
Số hạt nhân phóng xạ còn lại là:
Nt = No.e–λt = 5.1012.e–0,1.30 = 2,49.1011 (hạt)
Số hạt nhân phóng xạ đã phân rã là:
∆Nt = N0 - Nt = 5.1012 - 2,49.1011 = 4,75.1012 (hạt)
Độ phóng xạ sau 30 giây là:
Ht = λ.Nt = 0,1.2,49.1011 = 2,49.1010 (Bq)
Qua lời giải bài 4 trang 116 Vật lí 12 Chân trời sáng tạo SGK, các em cần nhớ:
Sự khác biệt: Cần đọc kỹ đề bài để tránh nhầm lẫn giữa "số hạt còn lại" và "số hạt đã phân rã".
Đơn vị: Hằng số phóng xạ $\lambda$ có đơn vị là $s^{-1}$ thì thời gian $t$ phải tính bằng giây ($s$) để triệt tiêu số mũ.
Ý nghĩa: Độ phóng xạ giảm dần theo thời gian theo cùng quy luật với số hạt nhân còn lại.
• Xem thêm:
Bài 2 trang 116 Vật Lí 12 Chân trời sáng tạo: Tia có khả năng đâm xuyên mạnh nhất là A. tia α...